Bởi vì ta đánh đâu thắng đó, chưa từng nếm mùi thất bại, lại đến từ phương Đông bí ẩn, nên đám người mắt xanh mũi lõ ở hải ngoại đều cung kính tôn xưng ta là "Đông Phương Bất Bại". Cứ như vậy, danh tiếng của ta vang danh tứ hải, được vạn người ngưỡng mộ.
Năm Vĩnh Lạc thứ bảy, vào khoảng mùng mười tháng Chạp tây lịch, ta hạ sinh nhóc thứ ba và thứ tư. Sinh xong hai đứa này, ta vốn định "rửa tay gác kiếm", không đẻ nữa.
Nào ngờ Trình Dục Chi lòng tham không đáy, hắn than thở rằng bốn đứa đều là con trai nghịch ngợm, hắn khao khát có một tiểu cô nương đáng yêu giống hệt ta.
Thế là hắn lùng sục khắp nơi, tìm kiếm đủ loại phương thuốc bí truyền, nghiên cứu bí quyết sinh nữ nhi để thỏa mãn tâm nguyện có được một mụn con gái. Chiều lòng hắn, năm Vĩnh Lạc thứ mười lăm, trong chuyến đi Tây Dương tiếp theo, ta lại hạ sinh đứa con thứ năm.
Lần này trời không phụ lòng người, rốt cuộc cũng là một bé gái. Trình Dục Chi mừng rỡ như điên, ôm ta hôn hít ầm ĩ, khiến ta cảm thấy mình vừa lập được chiến công hiển hách, vĩ đại vô cùng.
Nhưng về sau, ta lại có chút hối hận, bởi quá nửa sự chú ý của Trình Dục Chi đều dồn sang con bé, khiến ta cảm thấy có chút mất hứng.
Thấy ta mặt nặng mày nhẹ, Trình Dục Chi liền dỗ dành: "Trên đời này vi phu yêu nhất là nàng. Chỉ tiếc là ta không được chứng kiến dáng vẻ lúc nhỏ của nàng, nên mới yêu thương con gái như thế, hy vọng tìm thấy hình bóng nàng ngày xưa trên người nó."
Các ngươi cũng biết đấy, tên họ Trình này cực kỳ giỏi khoản rót mật vào tai, rất biết cách khiến người ta tin tưởng, nên cuối cùng ta lại bị hắn dụ dỗ đến mức tâm hoa nộ phóng, vui vẻ trở lại.
Lúc trước, đứa đầu và đứa thứ ba đã bị cha mẹ chồng ôm đi; đứa thứ hai và thứ tư thì bị cha mẹ ruột của ta cướp mất.
Vừa nghe tin đứa thứ năm là một bé gái – của hiếm trong nhà Mộ Dung – Mộ Dung gia lập tức phát ra "Đoạt Nữ Lệnh". Cha mẹ ta đích thân dẫn đầu, kéo theo các ca ca, bá phụ, thậm chí cả ông bà nội đang nằm trên ghế dưỡng lão cũng nằng nặc đòi đến thăm.
Cha mẹ chồng ta bình sinh chưa từng có con gái, đương nhiên cũng không chịu kém cạnh, lập tức gia nhập hàng ngũ tranh cướp. Phủ đệ của hai vợ chồng ta bỗng chốc biến thành cái chợ vỡ, người ra kẻ vào nườm nượp. Khổ nỗi bối phận chúng ta thấp nhất, chẳng biết phải làm sao với đám trưởng bối này.
Cho đến một hôm, chuyện riêng tư chốn phòng the của chúng ta bị bọn họ quấy rầy. Trình Dục Chi cuối cùng cũng không nhịn nổi nữa, hắn nhảy phắt xuống giường, xách cái nôi con gái mang ra ngoài cửa, gầm lên:
"Các người muốn cướp thì mang đi cho khuất mắt ta!"
Chỉ thấy cha mẹ ta và cha mẹ hắn len lén đỡ lấy cái nôi, vừa bàn tán xôn xao vừa vội vàng chuồn lẹ. Trình Dục Chi vẫn đứng ở cửa phòng, đầu bốc khói, quần áo xộc xệch, bộ dạng tức tối đùng đùng hiếm thấy. Ta nhìn hắn mà không nhịn được cười, lăn lộn trên giường cười khanh khách.
Hắn thấy mình thất thố, thẹn quá hóa giận, liền lao tới đè nghiến lấy ta, hung hăng hôn môi, tiếp tục "câu chuyện" vừa bị gián đoạn.
Cứ như vậy, chúng ta vất vả hơn mười năm, sinh được năm đứa con nhưng chẳng được nuôi đứa nào. Trình Dục Chi thấy thế liền an ủi:
"Cả đời này quản một bảo bối như nàng đã đủ khiến ta mệt chết rồi, hơi sức đâu mà lo cho con cháu nữa."
Năm Vĩnh Lạc thứ hai mươi, chúng ta lại giong buồm đi Tây Dương. Lần này là vì chuyện con gái nhà Tam ca của ta, rồi ta lại có thêm một đứa cháu trai. Sau đó, vợ chồng son bọn họ quyết định lưu lại hải ngoại.
Đến năm Tuyên Đức thứ sáu, Tuyên Đức Đế muốn chấn hưng quốc uy Đại Minh, lại hạ chỉ triệu ta đi Tây Dương. Nhớ lại mấy lần trước xuất ngoại đều chỉ lo chuyện sinh đẻ, chẳng kiếm chác được bao nhiêu. Lần này không vướng bận bầu bì, có thể toàn tâm toàn ý lo việc kiếm tiền, ta đương nhiên lập tức lĩnh chỉ.
Trên đường trở về, Trình Dục Chi thủ thỉ:
"Nàng kiếm nhiều tiền như vậy, cả đời này tiêu cũng không hết, cuối cùng chỉ béo mấy đứa nhóc con kia thôi."
Ta nghe vậy liền xụ mặt, trong lòng chẳng vui vẻ gì. Mấy thằng nhãi ranh đó mỗi lần về nhà đều tranh giành Trình Dục Chi với ta, ta không đánh đòn không được. Giờ lại bảo ta để dành tiền cho chúng nó ư?
Phì! Lão tử mặc kệ! Bây giờ lão tử phải lôi tiền ra tiêu xài cho sướng tay, tiêu đến khi nào cạn túi thì thôi.
Vì thế, Trình Dục Chi liền tung tin đồn ta mắc bệnh nan y, thập tử nhất sinh. Trước đây để tiện bề làm ăn...Căn cứ vào nguyên tắc "một giọt máu đào hơn ao nước lã", ta đã thu nhận rất nhiều đệ tử Cái Bang lên thuyền làm việc. Ta đã giao kèo với bọn chúng rằng:
"Nếu các ngươi chịu phối hợp với ta một lần này, kể từ nay về sau, ta sẽ không đòi tiền hoa hồng ăn xin của các ngươi nữa."
Nhờ có sự phối hợp ăn ý của bọn họ, cuối cùng kế hoạch giả chết của ta cũng thành công mỹ mãn. Sau đó, tại Ngưu Thủ Sơn ở Nam Kinh liền xuất hiện một ngôi mộ của Trịnh Hòa.
Đến lúc đó, ta trút bỏ nam trang, khôi phục thân phận nữ nhi, lấy lại cái tên Mộ Dung Hòa Chính. Ta cùng Trình Dục Chi nửa đường rời thuyền, bắt đầu hành trình du ngoạn thiên hạ, quyết tâm tiêu cho sạch sành sanh số tiền đã kiếm được.
***
**Ngoại Truyện**
Sau khi "Quỳ Hoa Bảo Điển" lưu truyền trên giang hồ, đã khiến cho người trong thiên hạ mơ ước, điên cuồng săn lùng.
Có một tên vọng tưởng độc bá võ lâm, bèn tìm kiếm thu thập tất cả những bản "Quỳ Hoa Bảo Điển" trong thiên hạ, chỉ giữ lại một quyển duy nhất, số còn lại đều đem đốt sạch.
Về sau, bản "Quỳ Hoa Bảo Điển" độc nhất này bị người ta đoạt tới đoạt lui, tranh giành khốc liệt. Người đời sau không biết rõ sự tình, nghe nhầm đồn bậy, lại truyền tai nhau rằng "Quỳ Hoa Bảo Điển" là do thái giám viết ra.
Nói vậy kể ra cũng không hoàn toàn sai. Mộ Dung Hòa Chính quả thật từng mang danh thái giám, chẳng qua về sau lại gây ra hiểu lầm lớn hơn. Giang hồ đồn đại rằng: "Chỉ có thái giám mới có thể luyện Quỳ Hoa Bảo Điển", làm khổ không biết bao nhiêu người.
Có một kẻ tên là Đông Phương Yếu Bạch chiếm được bản "Quỳ Hoa Bảo Điển" này. Vì muốn tiết kiệm thời gian, hắn vừa đoạt được sách, chưa kịp xem nội dung đã vung kiếm tự cung.
Đến lúc hắn mở ra trang thứ nhất, hàng chữ đầu tiên lại không đầy đủ, chỉ còn sót lại ba chữ rất mơ hồ, không rõ nghĩa. Dù sao cũng không phải ai cũng biết quý trọng sách vở, lại thêm cuốn sách này bao nhiêu năm qua lưu lạc qua tay không biết bao nhiêu nhân sĩ võ lâm, xương cốt còn lại được như thế này cũng đã là giỏi lắm rồi.
Đông Phương Yếu Bạch sau một hồi kiểm tra cẩn thận, nhận ra đại khái câu nói kia có mấy chữ "...công... cung...". Hắn âm thầm gật đầu, cho rằng câu đầu tiên chắc chắn nói là "muốn luyện công thì cần tự cung".
Đông Phương Yếu Bạch chiếu theo "Quỳ Hoa Bảo Điển" luyện thành tuyệt thế võ công, lại càng tin tưởng rằng những kiến giải của mình là đúng đắn. Vì vậy, hắn rút bút ra, viết chèn vào mấy chữ cho đủ câu:
"Dục luyện thử công, tất tiên tự cung." (Muốn luyện công này, trước tiên phải tự cung).
Từ đó về sau, bản "Quỳ Hoa Bảo Điển" đã qua sửa đổi ấy bắt đầu lưu truyền hậu thế. Lời lẽ sai trái truyền lâu ngày cũng có thể biến thành chân lý, vì vậy đa số mọi người tin sái cổ, đều vung đao tự cung.
Bọn họ nào có biết rằng: Nếu không tự cung cũng có thể thành công, cho dù tự cung cũng chưa chắc đã thành công.
Nếu đã lỡ tự cung rồi, thì chỉ đành vào cung làm thái giám mà thôi.
Mặc dù đã tự hoạn, nhưng cũng có rất nhiều kẻ luyện công thất bại. Đại bộ phận bọn họ đều đổ xô tới hoàng cung xin làm hoạn quan. Lại vì tình cảnh "tăng nhiều cháo ít", để tranh đoạt cơ hội, hết thảy bọn chúng đều trở nên tâm cơ ngoan độc, bày mưu tính kế, đi cửa sau, lợi dụng quan hệ.
Cho nên, đám người có thể tiến cung được đều là những kẻ giả dối, xảo quyệt. Trong đó nổi danh nhất chính là Ngụy Trung Hiền. Đại Minh triều bị hoạn quan nhũng loạn, cuối cùng đi vào con đường diệt vong.
Chỉ sợ Mộ Dung Hòa Chính không bao giờ ngờ tới chuyện này, mà chắc nàng cũng chẳng thèm quan tâm.
Lại mấy trăm năm qua đi, rất nhiều sự thật đã bị chôn vùi trong lớp bụi bặm của lịch sử, đồng thời lại có rất nhiều sự thật bị bóp méo, trộn lẫn với nhau thành một đám hỗn độn phức tạp.
Ở Hồng Kông, Trung Quốc, có một người tên là Kim Dung. Nhân lúc nghe được một số truyền thuyết ở bên ngoài, ông liền viết nên bộ "Tiếu Ngạo Giang Hồ".
Hắn lại mang Đông Phương Yếu Bạch và Đông Phương Bất Bại trộn lẫn lại thành một người. Vì thế, cái người mà mấy trăm năm trước được người Hoa tự hào, bắt dị tộc phải kính ngưỡng với danh hiệu vinh quang đó, liền biến thành một chuyện cười.
Nếu Mộ Dung Hòa Chính sống đến tận bây giờ, nhất định nàng sẽ hung hăng đạp cửa xông vào, tặng cho Kim Dung một đấm. Về phần có khôi phục danh dự hay không, hẳn nàng cũng không để ý làm gì.
Bình Luận Chapter
0 bình luận