Hộ Bộ vốn dĩ là yết hầu trọng yếu, nắm giữ mạch máu của triều đình từ dân số, điền thổ đến ngân sách, hậu cần. Vậy mà dưới sự chỉ đạo "tài tình" của vị thiên tài Lê Nhạn Băng, nơi này bị cắt giảm nhân sự, cho nghỉ việc hàng loạt đến mức trống huơ trống hoác.
Hệ quả nhãn tiền là gì? Công tác thống kê dân tị nạn chậm chạp như rùa bò, báo cáo ngân khố tắc nghẽn không ai xử lý, lương thực cứu trợ chất đống nhưng không thể phân phối kịp thời. Cả hệ thống cứu trợ quốc gia tê liệt hoàn toàn, giống như bị kẻ địch đánh trúng vào tử huyệt vậy.
Đó mới chính là căn bệnh trầm kha của Đại Huân. Một quốc gia đang oằn mình gồng gánh thiên tai, nay lại bị chính sự phá hoại từ nội bộ làm cho suy yếu thêm bội phần. Thế nhưng, vị quân sư tài trí tuyệt thế Lê Nhạn Băng kia lại chẳng mảy may nhìn ra nổi điều hiển nhiên ấy.
Nàng ta không thấy bộ máy hành chính đang thiếu người trầm trọng, không thấy khâu hậu cần đang loạng choạng như kẻ say rượu, càng không thấy dân tình đang khốn khó cùng cực vì thiếu sự thống kê và phân phối chuẩn xác. Không, trong mắt nàng ta, mọi lỗi lầm đều không phải do nàng ta gây ra.
Ngược lại, nàng ta còn nhẫn tâm dồn tất cả trách nhiệm lên đầu đám binh sĩ đang vào sinh ra tử ngoài tiền tuyến, đổ lỗi lên đầu những quan binh đã đổ máu và nước mắt để giữ vững từng tấc đất biên cương. Nàng ta dám trơ trẽn nói rằng việc cứu trợ chậm trễ là do... lương thực không đủ nhiều.
Thứ lỗi cho ta, nghe xong câu đó, ta thật sự chỉ muốn túm lấy cổ áo nàng ta, ném thẳng vào đống giấy tờ lộn xộn ở Hộ Bộ, bắt nàng ta tự mình đi thống kê dân số, để nàng ta mở to mắt ra mà nhìn cho rõ thực tế. Đó đâu phải là lập luận của một bậc trí giả? Đó là sự ảo tưởng kết hợp với thói thiển cận đạt đến cấp độ thảm họa thiên tai!
Tóm lại, đối với ả tỷ tỷ này, ta chỉ có đúng hai chữ để mô tả: "Ngu ngốc". Không thêm chữ nào cũng chẳng bớt chữ chi, không cần dùng mỹ từ hoa lá để che đậy, chính là sự ngu ngốc chuẩn xác theo đúng định nghĩa trong từ điển.
"Lúc này chính là lúc cần các tướng sĩ đứng ra, chúng ta đều là người bảo vệ quốc gia, chết còn không sợ, chẳng lẽ còn sợ đói sao?"
Ta nghe xong câu tuyên bố hùng hồn đó của Lê Nhạn Băng mà suýt chút nữa ngã ngửa khỏi ghế. Đúng là kịch bản não tàn đến cấp độ tuyệt chủng, tác giả viết ra những dòng này quả thực không sợ bị trời cao trừng phạt hay sao?
Trong cốt truyện gốc, nàng ta không những đề xuất cắt giảm quân lương, mà còn "chơi lớn" đến mức kiến nghị cắt bỏ vĩnh viễn khoản ngân sách đó để chuyển toàn bộ sang quỹ cứu trợ thiên tai. Kiểu suy nghĩ ấu trĩ này mà cũng được xưng tụng là quân sư, thì ta xin cúi đầu bái phục, gọi nàng ta là "quân sư quạt mo" phiên bản nâng cấp – loại quạt mà chỉ cần phe phẩy một cái là thổi bay cả giang sơn xã tắc tan tành mây khói.
Thế nhưng đâu đã hết, để gom tiền nhanh hơn nữa, nàng ta còn đưa ra một đề xuất mà nghe xong, bất kỳ ai chỉ cần có một nếp nhăn trong não cũng phải khóc thét vì kinh hãi: Cải cách trang bị quân đội bằng cách... trực tiếp cắt bỏ áo giáp.
Cái lý lẽ nàng ta đưa ra mới thật sự khiến người ta rùng mình: "Kiếm dùng để giết người chỉ cần có lưỡi sắc bén là được, cần gì phải đúc cả thanh kiếm bằng sắt nặng nề cho tốn kém? Có bằng chứng nào khẳng định sự hy sinh trên chiến trường liên quan đến độ dày của áo giáp đâu? Giáp mỏng một lớp, vừa nhẹ nhàng linh hoạt, ra trận lại càng thêm khí thế."
Ta thề có bóng đèn, nếu trên đời này có cuộc thi dành cho những tuyên ngôn gây án mạng gián tiếp...... siêu tốc, thì chắc chắn nàng ta sẽ chễm chệ đoạt ngôi quán quân. Nàng ta hồn nhiên không biết rằng kiếm cần có sống dày mới chịu được lực va đập, áo giáp cần độ nặng mới giữ được mạng người. Nàng ta càng không biết chiến trường đẫm máu chẳng phải là sàn diễn thời trang để khoe mẽ sự thanh thoát, và binh sĩ là những con người bằng da bằng thịt chứ đâu phải mấy mô hình rơm vô tri.
Đó chẳng còn là sai lầm nhất thời nữa, mà là sự ngu dốt bền vững, có hệ thống và tổ chức bài bản. Một nữ nhân tự xưng là "quân sư", nhưng hành xử lại chẳng khác nào kẻ phá hoại, từng bước, từng bước một dùng chiếc thìa sành cùn mòn để đục khoét móng nhà quốc gia.
Vậy mà Hoàng đế Hoành Kỳ Dật lại nghe theo răm rắp, không bỏ sót một chữ nào. Một kẻ ngu muội gặp một kẻ tin tưởng mù quáng, âu cũng là "nồi nào úp vung nấy", cái đất nước Đại Huân này chưa diệt vong ngay lập tức mới là chuyện lạ đời.
Quả nhiên, hậu quả ập đến nhanh và tàn khốc tự
Đại Huân khi ấy thê thảm ra sao? Có thể gói gọn trong "Tứ Không": Không lương thực, không quân nhu, không trang bị tốt, và không còn chút sĩ khí nào.
Binh lính bị lùa ra trận với tấm giáp mỏng manh như tà áo lụa mùa hè, cầm thanh kiếm nhẹ tênh như đồ chơi trẻ con, bụng thì đói meo, lòng thì rệu rã. Một đội quân như thế, không sụp đổ ngay từ trận đầu mới là phép màu.
Nỗi sợ hãi bao trùm, người ta sợ chết không ai nhặt xác, sợ thân nhân ở nhà không ai chu cấp, liền dẫn đến nạn đào ngũ hàng loạt. Binh lính cũng đâu phải thánh nhân, họ còn có mẹ già, vợ dại, con thơ. Chết vì giặc đã khổ, chết vì chính sách ngu xuẩn của cấp trên thì càng nhục nhã ê chề hơn.
Ngay cả những thanh niên trai tráng mới lớn, đáng lẽ phải nô nức xung phong tòng quân báo quốc, nay cũng bị nàng ta làm cho nát tan niềm tin. Nhìn vào cái quân đội nát bét như hũ tương ấy, thử hỏi ai còn dám giao phó mạng sống của mình vào đó?
Sau khi chính tay đẩy quốc gia xuống miệng vực thẳm, tưởng rằng nàng ta sẽ tỉnh ngộ sao? Nàng ta tuyên bố "tự kiểm điểm" ba ngày. Ừ thì nghe cũng hay đấy. Nhưng kiểm điểm xong nàng ta làm gì? Nàng ta đi kiểm điểm ngược lại người khác!
Và rồi, câu chuyện hài hước nhất thế kỷ đã diễn ra. Lê Nhạn Băng đứng chễm chệ trên cổng thành kinh đô, mặt mũi nghiêm trang như đang ban chiếu thư cải cách thiên hạ. Nàng ta mở miệng thốt ra một câu khiến ngay cả tượng đá vô tri cũng muốn bật dậy mà tát cho nàng ta một cái:
"Ta, Lê Nhạn Băng, thật không ngờ những nam nhân tòng quân này còn không bằng một nữ tử yếu đuối nhưng giàu nhiệt huyết như ta. Họ lại không muốn bảo vệ quốc gia, không có chút lòng yêu nước nào!"
Xin lỗi, nhưng lúc đó ta thật sự suýt bật cười thành tiếng, mém chút nữa là đánh mất hình tượng lạnh lùng.
Một kẻ gây ra hơn nửa cái quốc nạn, phá nát quân đội, làm tan rã lòng dân, giết chết tinh thần tòng quân, giờ đây lại quay ngoắt sang trách người khác "không yêu nước". Lòng yêu nước kiểu của nàng ta đó hả? Là yêu bằng cái miệng, yêu bằng sự ảo tưởng sức mạnh, yêu đến mức xé nát giang sơn ra từng mảnh vụn.
Thật không thể tin nổi, tư duy này chẳng khác nào việc cho bò ăn phân rồi quay lại trách con bò sao không vắt ra sữa tươi thượng hạng.
Vừa nghĩ đến việc Hoàng đế Hoành Kỳ Dật ngu ngốc đến mức để mặc ả lộng hành làm bậy, ta không khỏi lo lắng những bi kịch trong sách sẽ tái diễn. Nhưng ngẫm lại, ta cũng phải cúi đầu bái phục tác giả nguyên tác sát đất. Đồng ý đây là thể loại "sảng văn" cổ đại, nhưng cái mức độ hoang đường này xin phép được gọi là "ông cố nội" của mọi thể loại sảng văn.
Ta cam tâm bái hạ phong, không dám tranh luận nửa lời, chỉ xin trời phật phù hộ đừng để ta vô tình đọc thêm bất kỳ tác phẩm nào của vị tác giả này nữa, tim gan ta e rằng chịu đựng không nổi cú sốc này.
Ngay lập tức, như một cơn gió độc, Lê Nhạn Băng phi thẳng vào cung cáo ngự trạng. Nàng ta không chỉ tố cáo ta vô lễ với bề trên, mà còn thêm mắm dặm muối cho đủ gia vị, bịa đặt rằng ta và Tư Mã Tuân sống xa hoa vô độ trong lúc cầu thân, lại còn mang thói hư tật xấu chốn quan trường vào phủ.
Nghe mà ta chỉ muốn vỗ tay tán thưởng, nàng ta bịa chuyện còn nhanh hơn cả tốc độ ta rút kiếm.
Hoành Kỳ Dật vẫn giữ đúng cái bản tính "thiên tài" trong nguyên tác: nghe cái là tin, tin cái là làm. Hắn lập tức hạ lệnh triệu ta và Tư Mã Tuân vào cung diện thánh.
Ta nghe thánh chỉ mà lòng nguội lạnh như băng tuyết mùa đông ở Bắc Mạc. Hiệu suất triệu tập nhanh đến mức đáng sợ, cứ như hắn đã đặt riêng một đường truyền tin siêu tốc từ miệng Lê Nhạn Băng đến tai rồng của mình vậy.
Ta bắt đầu nghi ngờ, không biết Hoành Kỳ Dật rốt cuộc là một vị hoàng đế bằng xương bằng thịt, hay chỉ là con rối gỗ mà dây điều khiển đang nằm gọn trong tay nàng ta.
Tên thái giám dẫn đường thì hối thúc liên hồi, dáng vẻ cuống cuồng như thể phía sau lưng hắn đang cháy nhà đến nơi. Ta cảm thấy...Rõ ràng lần diện thánh này lành ít dữ nhiều, chẳng hề nhẹ nhàng như ta tưởng. Thế nên, ta âm thầm soạn sẵn trong đầu một bài "tế văn" dài cả vạn chữ, chuẩn bị tinh thần dùng ba tấc lưỡi để lật ngược thế cờ trước mặt Thiên Tử. Cứ nghĩ đến cảnh phải đứng trước Hoành Kỳ Dật, vừa phải đấu võ mồm vừa phải né tránh mấy cái "bẫy rập" phi logic của Lê Nhạn Băng là ta chỉ muốn cáo lão hồi hương, về hưu non ngay lập tức.
Bình Luận Chapter
0 bình luận